Quảng cáo
1 câu trả lời 395
Vào cuối năm 1427, để giải nguy cho đạo quân của Tổng binh Vương Thông đang bị vây hãm ở thành Đông Quan cũng như cứu vãn chế độ thống trị hà khắc của nhà Minh đối với nhân dân Đại Việt trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn, vua Tuyên Đức (triều Minh) liền sai An viễn hầu Liễu Thăng chỉ huy 10 vạn quân theo hướng Lạng Sơn (hướng chủ yếu) và Kiềm quốc công Mộc Thạnh chỉ huy 05 vạn quân theo hướng ải Lê Hoa (Hà Giang ngày nay) tiến đánh nước ta. Trước tình hình đó, bằng nhãn quan và tư duy chiến lược quân sự sắc sảo, sau khi họp bàn với Bộ Thống soái Nghĩa quân, Bình Định Vương Lê Lợi xác định: “Đánh thành là hạ sách… Viện binh giặc bị phá thì thành giặc nhất định phải hàng”1. Thực hiện kế sách này, bằng tài năng thao lược xuất chúng của Bộ Thống soái tối cao cùng sự phối hợp, phát huy cao độ các nhân tố về thiên thời, địa lợi, nhân hòa,… Nghĩa quân Lam Sơn đã tiến hành trận quyết chiến tại Chi Lăng - Xương Giang, đánh tan đạo quân viện binh chủ yếu của địch, khiến âm mưu “cố thủ chờ viện” của chúng bị phá sản hoàn toàn, buộc Vương Thông phải hạ vũ khí đầu hàng, rút quân về nước. Đây là trận quyết chiến chiến lược có một không hai trong lịch sử dân tộc, vừa là bản hùng ca kết thúc 10 năm kháng chiến gian khổ của nhân dân ta, vừa thể hiện khí phách hiên ngang của dân tộc, đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù hung bạo, để từ đây “mở ra nền thái bình muôn thủa”, “rửa nỗi thẹn nghìn thu”. Chiến thắng trận quyết chiến chiến lược đó, đã để lại nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật quân sự, nhất là nghệ thuật tạo lập thế trận khéo léo, linh hoạt, sáng tạo để tiêu diệt lớn quân địch; được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, triệt để tận dụng địa hình, xây dựng thế trận hiểm hóc, có chiều sâu, đảm bảo đánh địch thuận lợi trên toàn tuyến hành binh của chúng. Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá, nắm chắc tình hình địch cũng như mục đích, tính chất cuộc tiến quân cứu viện của chúng, Bộ Thống soái Nghĩa quân đi đến kết luận “Quân đi cứu nguy cấp phải lấy mau chóng làm quý, giặc nhất định phải hành quân vội”2. Hơn nữa, ỷ vào lực lượng lớn cùng hệ thống thành trì đã thiết lập từ trước trên đường tiến quân, nên địch dễ nảy sinh chủ quan, kiêu ngạo. Nếu ta tận dụng được thế thiên hiểm của địa hình, xây dựng thế trận hiểm hóc, có chiều sâu thì sẽ đẩy đạo quân chủ yếu này từ thế chủ động thành bị động, quân tuy đông nhưng ở thế yếu, dễ bị tiêu diệt. Từ suy tính đó, Lê Lợi quyết định chọn khu vực từ cửa Pha Lũy (Lạng Sơn) đến thành Xương Giang (Bắc Giang) là khu vực tác chiến chủ yếu để tập trung tạo lập thế trận tiêu diệt địch. Đây là sự lựa chọn chính xác, bởi từ Lạng Sơn về Đông Quan, địch phải vượt qua các dãy núi hiểm trở, sau đó là vùng trung du và các cánh đồng trống trải. Trong đó, khu vực ải Chi Lăng (Lạng Sơn) là một thung lũng hẹp, ép giữa hai dãy núi Bảo Đài - Thái Họa và Cai Kinh. Đây là con đường duy nhất, buộc viện binh của Liễu Thăng phải cơ động qua với đội hình kéo dài, tiện cho ta cắt địch ra để tiêu diệt từng bộ phận. Khu vực này rất tiện cho ta lợi dụng hai dãy núi hiểm trở đó để triển khai đội hình bảo đảm bí mật, có thế đánh ép từ trên xuống, dồn chúng vào thung lũng chật hẹp để tiêu diệt. Ngoài ra, một số nơi có địa hình hiểm trở, như: Cần Trạm, Phố Cát,… ta có thể tận dụng để phục kích bất ngờ tiêu diệt địch. Đặc biệt, khu vực Xương Giang là cánh đồng tương đối rộng và trống trải, nếu dồn địch buộc chúng phải cụm lại một lực lượng lớn vào đó và ta có thể tập trung toàn bộ lực lượng, hình thành nhiều mũi, hướng bất ngờ tiến công,
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
47192 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
35138 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
34582 -
Hỏi từ APP VIETJACK31932
