phân tích vai trò của dân cư và lao động đến sự phát triển và phân bố ngành công nghiệp nc ta
Quảng cáo
2 câu trả lời 61
Nguồn lao động dồi dào, giá rẻ: Thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tạo điều kiện phát triển các ngành cần nhiều nhân công (Dệt may, da giày, lắp ráp điện tử).
Chất lượng lao động nâng cao: Lao động Việt Nam cần cù, khéo tay, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật; đội ngũ kỹ thuật và quản lý ngày càng phát triển, giúp mở rộng các ngành công nghiệp công nghệ cao.
Thị trường tiêu thụ rộng lớn: Dân số đông tạo ra thị trường trong nước tiêu thụ mạnh, kích thích công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến phát triển.
Ảnh hưởng đến phân bố công nghiệp:Vùng đồng bằng, đô thị lớn (Đông Nam Bộ, ĐBSH): Đông dân, lao động trình độ cao → tập trung các trung tâm công nghiệp lớn, đa ngành, công nghệ cao.
Vùng miền núi, trung du: Dân thưa, chủ yếu phát triển công nghiệp khai thác tài nguyên (khai khoáng, thủy điện).
Dân cư và lao động là nhân tố kinh tế - xã hội giữ vai trò quyết định hàng đầu đối với sự phát triển và phân bố ngành công nghiệp ở nước ta. Vai trò này được thể hiện rõ qua hai khía cạnh chính: lực lượng sản xuất (nguồn lao động) và thị trường tiêu thụ (quy mô dân cư).
1. Vai trò của nguồn lao động đối với sự phát triển và phân bố công nghiệp
Nguồn lao động là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra giá trị cho ngành công nghiệp.
a. Về mặt số lượng (Nguồn lao động dồi dào, giá rẻ)
Thúc đẩy các ngành cần nhiều lao động: Nước ta có quy mô dân số đông (trên 100 triệu người), cơ cấu dân số vàng với lực lượng lao động dồi dào. Đây là lợi thế lớn để phát triển mạnh các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến như: dệt may, da giày, chế biến lương thực - thực phẩm, lắp ráp linh kiện điện tử...
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI): Chi phí nhân công hợp lý là một trong những thế mạnh cạnh tranh quan trọng giúp Việt Nam thu hút mạnh mẽ các tập đoàn đa quốc gia (Samsung, LG, Foxconn...) đến mở nhà máy sản xuất.
b. Về mặt chất lượng (Trình độ lao động ngày càng nâng cao)
Chuyển dịch cơ cấu ngành: Trình độ học vấn, kỹ thuật và tay nghề của lao động Việt Nam đang ngày càng được cải thiện. Nhờ đó, nước ta từng bước chuyển dịch từ các ngành công nghiệp thâm dụng lao động đơn giản sang các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ, tri thức cao như: công nghệ thông tin, bán dẫn, tự động hóa, cơ khí chính xác, hóa chất...
Tăng năng suất và chất lượng: Sự nhanh nhạy, khả năng tiếp thu công nghệ mới của lực lượng lao động trẻ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp trên thị trường quốc tế.
c. Tác động đến sự phân bố công nghiệp
Công nghiệp thường tập trung ở những khu vực có nguồn lao động dồi dào và có chất lượng cao.
Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng tập trung công nghiệp lớn nhất cả nước chính nhờ sở hữu lực lượng lao động đông đảo, mật độ dân số cao và có trình độ tay nghề, kỹ thuật tốt nhất.
Ngược lại, các vùng miền núi (như Trung đồi và miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên) do lao động thưa thớt, trình độ chưa cao nên các ngành công nghiệp chủ yếu phát triển theo hướng khai khoáng hoặc chế biến tại chỗ.
2. Vai trò của dân cư với tư cách là thị trường tiêu thụ
Dân cư không chỉ là người sản xuất mà còn là người tiêu dùng các sản phẩm công nghiệp.
Kích thích sản xuất phát triển: Dân số đông, mức sống và thu nhập của người dân ngày càng gia tăng giúp mở rộng quy mô thị trường tiêu thụ nội địa. Điều này tạo ra lực đẩy lớn cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thực phẩm, đồ gia dụng, xe máy, ô tô... phát triển liên tục.
Định hình sự phân bố công nghiệp:
Các đô thị lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng...) là những nơi có mật độ dân cư đông đúc, sức mua cao nên trở thành các trung tâm công nghiệp lớn, ưu tiên các ngành công nghiệp phục vụ trực tiếp cho nhu cầu đời sống đô thị.
Thị trường tiêu thụ thay đổi về thị hiếu cũng thúc đẩy các doanh nghiệp công nghiệp đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa ngành nghề.
Tổng kết
Dân cư và lao động vừa là đầu vào (cung cấp sức lao động, trí tuệ), vừa là đầu ra (thị trường tiêu thụ) của ngành công nghiệp. Nguồn lao động dồi dào, tay nghề nâng cao kết hợp với thị trường nội địa ngày càng phát triển đã và đang quyết định chiều sâu phát triển cũng như sự hình thành các trung tâm công nghiệp lớn tại Việt Nam.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
Cho bảng số liệu: (2,5 điểm)
DIỆN TÍCH ĐẤT NÔNG NGHIỆP, DÂN SỐ CỦA CẢ NƯỚC VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG, NĂM 2002
Đất nông nghiệp (nghìn ha) Dân số (triệu người) Cả nước 9406,8 79,7 Đồng bằng sông Hồng 855,2 17,5 1. Tính bình quân đất nông nghiệp theo đầu người ở ĐBSH và cả nước (ha/người).
2. Nhận xét?
3087 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
2194
