Bằng những kiến thức đã học , hãy làm sáng tỏ nhận định ( Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt lịch sử chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo của Cách Mạng Việt Nam )
Quảng cáo
4 câu trả lời 44
1. Thực trạng trước năm 1930: Cuộc khủng hoảng bế tắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo
Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) đến trước năm 1930, phong trào yêu nước Việt Nam phát triển liên tục, sôi nổi với nhiều khuynh hướng khác nhau nhưng đều rơi vào bế tắc và thất bại:
Khuynh hướng phong kiến (Cuối thế kỷ XIX):
Đại diện: Phong trào Cần Vương (1885 - 1896) do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết khởi xướng, Khởi nghĩa Yên Thế (1884 - 1913) của Hoàng Hoa Thám.
Kết quả: Thất bại.
Nguyên nhân: Giai cấp phong kiến đã lỗi thời, không đưa ra được đường lối phát triển xã hội phù hợp với xu thế thời đại; không thể tập hợp và phát huy tối đa sức mạnh toàn dân.
Khuynh hướng dân chủ tư sản (Đầu thế kỷ XX đến 1930):
Đại diện:
Xu hướng bạo động của Phan Bội Châu (Duy Tân hội, Việt Nam Quang phục hội).
Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh (Phong trào Duy Tân).
Khởi nghĩa Yên Bái (1930) của Việt Nam Quốc dân đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo.
Kết quả: Lần lượt thất bại thảm hại.
Nguyên nhân: Giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam còn yếu ớt về kinh tế, nhút nhát về chính trị; không xây dựng được một hệ tư tưởng độc lập, thiếu đường lối chiến lược triệt để và không thể xây dựng được khối liên minh công - nông bền vững.
Tóm lại: Lịch sử cách mạng Việt Nam giai đoạn này rơi vào cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước (Chưa biết đi theo con đường nào?) và khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo (Giai cấp nào đủ sức đứng ra tập hợp, dẫn dắt dân tộc?).
2. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930): Giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng
Ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất các tổ chức cộng sản, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Sự kiện này đã giải quyết tận gốc hai bế tắc lớn nhất của lịch sử:
a. Chấm dứt khủng hoảng về đường lối cứu nước
Xác định con đường cách mạng đúng đắn: Cương lĩnh chỉ rõ cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: "Làm thổ địa cách mạng và tư sản dân quyền cách mạng để đi tới xã hội cộng sản".
Giải quyết hài hòa hai nhiệm vụ Dân tộc và Giai cấp: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc (chống đế quốc) lên hàng đầu, kết hợp với nhiệm vụ giải phóng giai cấp (chống phong kiến). Điều này vừa phù hợp với quy luật khách quan, vừa đáp ứng đúng nguyện vọng cháy bổng của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: Chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam bị cô lập, lẻ loi; đưa cách mạng nước ta trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng vô sản thế giới.
b. Chấm dứt khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo
Giai cấp công nhân nắm quyền lãnh đạo: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin với Phong trào công nhân và Phong trào yêu nước. Nó khẳng định giai cấp công nhân – giai cấp tiên tiến nhất, đại diện cho phương thức sản xuất mới – thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản đã chính thức bước lên đài lịch sử nắm quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng.
Xây dựng lực lượng cách mạng toàn dân: Đảng đã quy tụ được khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh Công - Nông vững chắc, đồng thời tranh thủ, đoàn kết với các tầng lớp yêu nước khác (trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc, địa chủ vừa và nhỏ).
3. Ý nghĩa bước ngoặt: Mở ra thời đại mới cho dân tộc Việt Nam
Sự chấm dứt cuộc khủng hoảng này chính là nhân tố quyết định hàng đầu dẫn đến chuỗi thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong thế kỷ XX và XXI:
Chuẩn bị lực lượng và đường lối: Là bước chuẩn bị tất yếu đầu tiên cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Lãnh đạo kháng chiến thắng lợi: Lãnh đạo nhân dân đánh bại hai đế quốc to là Pháp (1954) và Mỹ (1975), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Lãnh đạo công cuộc Đổi mới: Đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.
KẾT LUẬN
Nhận định trên là hoàn toàn chính xác. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930 không chỉ kết thúc thời kỳ mò mẫm, bế tắc tìm đường cứu nước của các thế hệ sĩ phu và nhà yêu nước tiền bối, mà còn xác lập con đường cứu nước duy nhất đúng đắn: Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, mở ra một bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam.
Nhận định "Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt lịch sử chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo của Cách mạng Việt Nam" là một khẳng định hoàn toàn đúng đắn, phản ánh chính xác quy luật vận động và bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc đầu thế kỷ XX.
Dưới đây là phần phân tích và làm sáng tỏ nhận định dựa trên các kiến thức lịch sử đã học:
1. Thực trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo trước năm 1930
Sau khi thực dân Pháp xâm lược và đặt chi phối lên nước ta, các phong trào yêu nước chống Pháp bùng nổ mạnh mẽ nhưng đều lần lượt thất bại vì thiếu một đường lối đúng đắn và một giai cấp lãnh đạo tiên tiến:
Khủng hoảng về phong trào và đường lối phong kiến:
Phong trào Cần Vương (1885 - 1896) và khởi nghĩa Yên Thế (1884 - 1913) đại diện cho ý thức hệ phong kiến và nông dân. Mặc dù diễn ra quật cường, các phong trào này thất bại vì ngọn cờ phong kiến đã trở nên lạc hậu, không còn khả năng giải phóng dân tộc trước một kẻ thù hiện đại.
Khủng hoảng về phong trào và đường lối tư sản/tiểu tư sản:
Đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước tiến bộ khởi xướng phong trào Đông Du, Duy Tân (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) dựa trên tư tưởng dân chủ tư sản. Đến những năm 1920, Việt Nam Quốc dân đảng (Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học) tiếp tục cuộc đấu tranh.
Tuy nhiên, các cuộc vận động này đều thất bại (tiêu biểu là sự tan rã của khởi nghĩa Yên Bái năm 1930) do giai cấp tư sản Việt Nam còn non yếu, phương pháp đấu tranh chưa phù hợp (hoặc thiên về bạo động đơn độc, hoặc thiên về cải lương) và chưa tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân.
Kết luận giai đoạn: Cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc ngột ngạt như "trong đêm tối không có đường ra", thiếu một giai cấp tiên phong lãnh đạo và một phương pháp cách mạng khoa học.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng đó như thế nào?
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3/2/1930) dưới sự hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã giải quyết triệt để hai mắt khâu khủng hoảng lớn nhất:
a. Chấm dứt khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Giai cấp công nhân Việt Nam thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản đã chính thức bước lên đài lịch sử, nắm lấy sứ mệnh lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam.
Giai cấp công nhân tuy số lượng không nhiều nhưng có tinh thần kỷ luật cao, gắn bó chặt chẽ với giai cấp nông dân và đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất.
b. Chấm dứt khủng hoảng về đường lối cứu nước
Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, khoa học:
Mục tiêu chiến lược: Làm "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" — kết hợp chặt chẽ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ cách mạng: Đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày.
Lực lượng cách mạng: Đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh Công - Nông làm gốc, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc yêu nước.
Quan hệ quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
3. Ý nghĩa bước ngoặt lịch sử của sự kiện
Khai mở con đường phát triển mới: Đường lối của Đảng đã chỉ ra con đường cứu nước duy nhất đúng đắn cho dân tộc: Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.
Làm nên những thắng lợi vĩ đại tiếp theo: Nhờ có đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo nhất quán của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác:
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đập tan nát ách đô hộ của đế quốc, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống xâm lược (Pháp và Mỹ), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Kết luận
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 thực sự là bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Đảng ra đời đã chấm dứt hoàn toàn thời kỳ khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo kéo dài nửa thế kỷ, đưa cách mạng Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới — kỷ nguyên độc lập, tự do và hướng tới chủ nghĩa xã hội.
1. Bối cảnh trước năm 1930: Cuộc khủng hoảng sâu sắc
Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược (1858) và thiết lập ách thống trị, xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về con đường giải phóng dân tộc:
Sự thất bại của khuynh hướng phong kiến: Các phong phong trào Cần Vương (cuối thế kỷ XIX), khởi nghĩa Yên Thế diễn ra anh dũng nhưng đều thất bại. Điều này chứng tỏ giai cấp phong kiến đã lỗi thời, không còn đủ năng lực lãnh đạo dân tộc.
Sự bế tắc của khuynh hướng dân chủ tư sản: Đầu thế kỷ XX, các bậc tiền bối như Phan Bội Châu (xu hướng bạo động), Phan Châu Trinh (xu hướng cải cách) hay Nguyễn Thái Học (Việt Nam Quốc dân đảng) đã cố gắng tìm con đường mới. Tuy nhiên, các phong trào này đều bị thực dân Pháp dập tắt tàn khốc do thiếu một đường lối đúng đắn và một giai cấp tiên tiến lãnh đạo.Lịch sử Việt Nam lúc bấy giờ đen tối "như không có đường ra", đặt ra yêu cầu lịch sử bức thiết là phải tìm thấy một giai cấp lãnh đạo mới và một con đường cứu nước khoa học.
2. Đảng ra đời chấm dứt khủng hoảng về Giai cấp lãnh đạo
Sự xuất hiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) chính là sự khẳng định quyền thống trị và lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân.
Giai cấp tiên tiến nhất: Tuy số lượng còn nhỏ, công nhân Việt Nam là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có tính kỷ luật cao và gắn bó mật thiết với giai cấp nông dân.
Bộ tham mưu chiến đấu: Đảng chính là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đủ năng lực tổ chức, tập hợp toàn thể nhân dân lao động và các lực lượng yêu nước thành một khối thống nhất.
3. Đảng ra đời chấm dứt khủng hoảng về Đường lối cứu nước
Ngay khi vừa thành lập, Đảng đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Cương lĩnh này đã giải quyết tận gốc mọi bế tắc về đường lối:
Xác định đúng đắn con đường phát triển: Làm "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Đây là con đường cách mạng vô sản, gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Xác định đúng nhiệm vụ chiến lược: Đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày.
Xác định đúng lực lượng cách mạng: Công nhân và nông dân là gốc (lực lượng nòng cốt), đồng thời chủ trương đoàn kết với tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ có lòng yêu nước.
Gắn liền cách mạng Việt Nam với thế giới: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, tranh thủ sự ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản quốc tế.
4. Ý nghĩa bước ngoặt lịch sử (Kết luận)
Sự kiện thành lập Đảng đã tạo nên một bước ngoặt vĩ đại vì nó chuyển cách mạng Việt Nam từ trạng thái tự phát sang tự giác:
Mở đường cho các thắng lợi tương lai: Nhờ có Đảng và đường lối đúng đắn, cách mạng Việt Nam đã tiến lên mạnh mẽ, giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám (1945), kháng chiến chống Pháp (1954), chống Mỹ (1975) và đạt nhiều thành tựu trong công cuộc Đổi mới ngày nay.
Quy tụ sức mạnh dân tộc: Chấm dứt thời kỳ phân tán, chia rẽ giữa các tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản đảng, An Nam Cộng sản đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn), quy tụ sức mạnh toàn dân về một mối.
Nhận định "Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt lịch sử chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo của Cách mạng Việt Nam" là một khẳng định hoàn toàn đúng đắn, phản ánh chính xác quy luật vận động và bước ngoặt vĩ đại của lịch sử dân tộc đầu thế kỷ XX.
Dưới đây là phần phân tích và làm sáng tỏ nhận định dựa trên các kiến thức lịch sử đã học:
1. Thực trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo trước năm 1930
Sau khi thực dân Pháp xâm lược và đặt chi phối lên nước ta, các phong trào yêu nước chống Pháp bùng nổ mạnh mẽ nhưng đều lần lượt thất bại vì thiếu một đường lối đúng đắn và một giai cấp lãnh đạo tiên tiến:
Khủng hoảng về phong trào và đường lối phong kiến:
Phong trào Cần Vương (1885 - 1896) và khởi nghĩa Yên Thế (1884 - 1913) đại diện cho ý thức hệ phong kiến và nông dân. Mặc dù diễn ra quật cường, các phong trào này thất bại vì ngọn cờ phong kiến đã trở nên lạc hậu, không còn khả năng giải phóng dân tộc trước một kẻ thù hiện đại.
Khủng hoảng về phong trào và đường lối tư sản/tiểu tư sản:
Đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước tiến bộ khởi xướng phong trào Đông Du, Duy Tân (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh) dựa trên tư tưởng dân chủ tư sản. Đến những năm 1920, Việt Nam Quốc dân đảng (Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học) tiếp tục cuộc đấu tranh.
Tuy nhiên, các cuộc vận động này đều thất bại (tiêu biểu là sự tan rã của khởi nghĩa Yên Bái năm 1930) do giai cấp tư sản Việt Nam còn non yếu, phương pháp đấu tranh chưa phù hợp (hoặc thiên về bạo động đơn độc, hoặc thiên về cải lương) và chưa tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân.
Kết luận giai đoạn: Cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc ngột ngạt như "trong đêm tối không có đường ra", thiếu một giai cấp tiên phong lãnh đạo và một phương pháp cách mạng khoa học.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng đó như thế nào?
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3/2/1930) dưới sự hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã giải quyết triệt để hai mắt khâu khủng hoảng lớn nhất:
a. Chấm dứt khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Giai cấp công nhân Việt Nam thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản đã chính thức bước lên đài lịch sử, nắm lấy sứ mệnh lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam.
Giai cấp công nhân tuy số lượng không nhiều nhưng có tinh thần kỷ luật cao, gắn bó chặt chẽ với giai cấp nông dân và đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ nhất.
b. Chấm dứt khủng hoảng về đường lối cứu nước
Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, khoa học:
Mục tiêu chiến lược: Làm "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản" — kết hợp chặt chẽ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ cách mạng: Đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai, giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày.
Lực lượng cách mạng: Đoàn kết toàn dân tộc, lấy liên minh Công - Nông làm gốc, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc yêu nước.
Quan hệ quốc tế: Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
3. Ý nghĩa bước ngoặt lịch sử của sự kiện
Khai mở con đường phát triển mới: Đường lối của Đảng đã chỉ ra con đường cứu nước duy nhất đúng đắn cho dân tộc: Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.
Làm nên những thắng lợi vĩ đại tiếp theo: Nhờ có đường lối đúng đắn và sự lãnh đạo nhất quán của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác:
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đập tan nát ách đô hộ của đế quốc, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống xâm lược (Pháp và Mỹ), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Kết luận
Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 thực sự là bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Đảng ra đời đã chấm dứt hoàn toàn thời kỳ khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo kéo dài nửa thế kỷ, đưa cách mạng Việt Nam bước sang một kỷ nguyên mới — kỷ nguyên độc lập, tự do và hướng tới chủ nghĩa xã hội.
(Cre:yly)
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
9838
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
6401 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
3647 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
2915 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
2765 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
2233 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
1871
