Tìm hiểu và trình bày đặc điểm phân bố của một dân tộc nước ta
Quảng cáo
5 câu trả lời 63
I. Dàn ý chuẩn để trình bày đặc điểm phân bố của một dân tộc
Giới thiệu chung:
Tên dân tộc, quy mô dân số (dân tộc Kinh hay dân tộc thiểu số).
Nhóm ngôn ngữ (ví dụ: Tày - Thái, Môn - Khơ-me, Việt - Mường,...).
Địa bàn phân bố chính:
Tập trung chủ yếu ở vùng địa hình / vùng địa lý nào (Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Trường Sơn - Tây Nguyên, Duyên hải,...)?
Tỉnh / thành phố tiêu biểu.
Đặc điểm phân bố cư trú:
Cư trú tập trung hay rải rác?
Thường sống ở dạng địa hình nào (thung lũng, ven sông suối, đồi núi cao, hay đồng bằng)?
Xu hướng thay đổi phân bố gần đây (nếu có):
Do chính sách định canh định cư, phân bố lại lao động, hoặc di cư tự do/kinh tế, địa bàn sinh sống có sự mở rộng hay xen kẽ với các dân tộc khác hay không?
II. Bài làm mẫu: Trình bày đặc điểm phân bố của dân tộc Tày
1. Giới thiệu chung
Dân tộc Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, là dân tộc thiểu số có dân số đông nhất tại Việt Nam (hơn 1,8 triệu người).
2. Địa bàn phân bố chính
Dân tộc Tày phân bố tập trung chủ yếu ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ, đặc biệt là khu vực Đông Bắc.
Các tỉnh có đông người Tày sinh sống nhất bao gồm: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Quảng Ninh.
3. Đặc điểm cư trú đặc trưng
Địa hình sinh sống: Người Tày thường cư trú ở các thung lũng, lòng chảo, ven sông, ven suối – nơi có địa hình tương đối bằng phẳng và nguồn nước dồi dào.
Hình thức cư trú:
Định cư lâu đời thành các bản (làng), mỗi bản thường có từ vài chục đến hàng trăm ngôi nhà sàn dựng gần nhau.
Địa bàn sinh sống gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước kết hợp làm nương rẫy và chăn nuôi.
4. Xu hướng biến đổi địa bàn phân bố
Trong những thập kỷ gần đây, do việc di cư phát triển kinh tế và chính sách phân bố lại dân cư, một bộ phận người Tày đã di chuyển vào sinh sống ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đắk Nông).
Hiện nay, người Tày không chỉ sống thuần túy ở vùng núi phía Bắc mà đã xen kẽ với nhiều dân tộc khác (Kinh, Nùng, Dao...) ở nhiều vùng miền trên cả nước.
bài này theo tui mới đc học là : các dân tộc sinh sống rộng khắp trên đất nước , người kinh sống chủ yếu ở các vùng đồng bằng ven biển , các dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở miền núi và cao nguyên
- Địa bàn cư trú: Trải dài từ Bắc vào Nam, sinh sống tập trung đông đúc ở các vùng đồng bằng châu thổ (châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long), ven biển và các khu vực trung du.
- Mật độ dân số: Rất cao so với các vùng khác, hình thành các trung tâm kinh tế, văn hóa và đô thị lớn của cả nước.
- Sự đan xen: Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, người Kinh nay cũng cư trú tại nhiều vùng miền núi, cao nguyên cùng các dân tộc thiểu số khác.
Dân tộc Mông ở Việt Nam
Tổng quan về dân tộc
Dân số: Khoảng 1,39 triệu người (theo kết quả Điều tra dân số & nhà ở), là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đông nhất Việt Nam.
Ngôn ngữ: Thuộc ngữ hệ Hmong - Mien.
Đặc điểm phân bố địa lý
Địa bàn cư trú chính: Tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Châu và một số tỉnh Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Thanh Hóa).
Địa hình: Cư trú chủ yếu ở vùng núi cao (độ cao từ 800m đến 1.500m so với mặt nước biển), nơi có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt.
Dịch chuyển dân cư: Từ những năm 1990 trở lại đây, một bộ phận người Mông di cư vào khu vực Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng), hình thành các thôn bản mới gắn liền với canh tác cây công nghiệp.
Đặc điểm không gian sinh sống và kinh tế gắn liền với phân bố
Phương thức phân bố: Cư trú theo từng cụm làng xóm (gọi là xóm hay bản), các nhà thường nằm sát nhau trên các sườn núi cao hoặc thung lũng hẹp.
Thích ứng môi trường: Vùng cư trú núi cao hình thành nên văn hóa canh tác lúa nương, ngô trên đá hộc (thổ canh hốc đá) và làm ruộng bậc thang.
- Dân tộc Kinh phân bố chủ yếu ở rộng khắp cả nước, song tập trung hơn ở đồng bằng, trung du và duyên hải.
- Dân tộc ít người phân bố chủ yếu ở miền núi và trung du:
+ Các dân tộc ở Trung du miền núi Bắc Bộ: Trên 30 dân tộc cư trú xen kẽ, có sự khác biệt giữa các vùng thấp, vùng giữa và vùng cao.
+ Các dân tộc ít người ở Trường Sơn – Tây Nguyên: Trên 20 dân tộc ít người, cư trú thành vùng khá rõ rệt.
+ Các dân tộc ít người ở cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ: Cư trú thành từng dải hoặc xen kẽ với người Việt (các dân tộc Chăm, Khơ-me), chủ yếu ở đô thị, nhất là TP. Hồ Chí Minh (người Hoa).
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
6265 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
6151

