so sánh tâm trạng Mỵ và Sao (chỉ làm đoạn 8 và đoạn 10)
Đoạn truyện (1):
(Tóm tắt phần đầu: Truyện kể về cô Mỵ đẹp, có tài thổi sáo và đã có người yêu. Nhà Mỵ nghèo, vì món nợ của cha mẹ mà bị nhà thống lý Pá Tra lừa bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống lý. Hồi mới về làm dâu, Mỵ còn cảm thấy đau khổ và muốn chết, nhưng thương bố, Mỵ quay trở lại làm dâu nhà Pá Tra. Từ đó Mỵ dần quen khổ, mỗi ngày một lầm lì, không nói cho đến khi mùa xuân đến...)
Ngày tết, Mỵ cũng uống rượu. Mỵ lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mỵ lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng Mỵ đang sống về ngày trước, tai văng
tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước My thổi sáo giỏi. Mùa xuân đến. Mỵ uống rượu bên p và thổi sảo. Mỵ uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo My hết núi này sang núi khác.
Rượu tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mỵ không biết. My vẫn ngồi trở một mình giữa nhà. Mãi sau Mỵ mới đứng dậy. Nhưng Mỵ không bước ra đường. My từ từ vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mỵ đi chơi Tết. Mỵ cũng chẳng buồn đi.
Bấy giờ Mỵ ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Từ nãy My thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mỵ trẻ. Mỵ vẫn còn trẻ. My muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với My, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau. Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường.
(Trích Vợ chồng A Phủ, in trong tập truyện Truyện Tây Bắc, Tô Hoài, Nxb Văn học, 1971,tr.135-136)
Đoạn truyện (2):
(Tóm lược phần đầu: Gia đình Mư sống ở bản Sang, một nơi heo hút, kinh tế phụ thuộc vào nghề thủ công và du lịch, nhưng bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh. Đã vậy, gia đình Mư còn mắc nợ gia đình chị Mo, mẹ của Chơn – người muốn cưới Sao, con gái lớn của Mư. Hôm ấy, chị Mo sang nhà, nhấc chuyện muốn cưới Sao cho con trai mình để trừ nợ. Sao không chấp nhận cuộc hôn nhân sắp đặt, một đêm đã mạnh dạn sang khu du lịch trên núi đê xin việc làm lấy tiền trả nợ...)
Sao lững thững ra sân. Bước qua cải cổng làm bằng hai cây vầu bắc ngang là chạm vào cảnh đồng đang rì rào trong gió. Trời đêm cuối năm, bản Sang rất lạnh. Sao bước trên con đường mòn chạy loằn ngoằn nổi bản với cây cầu treo bắc qua suối. Lâu lắm rồi Sao không xuống cầu treo vào buổi tối. Nhưng hôm nay, Saq cầm củi bước đi như thể có điều gì đó thôi thúc. Đến khi Sao ngẩng đầu nhìn sang bên kia dòng suối thì bắt gặp một dải sáng lung linh từ những căn nhà người ta dựng trên sườn núi cho khách lưu trú qua đêm. Lại gần hơn, Sao còn nghe cả tiếng người cười đùa và tiếng ai đó hát. Tìm đập thình thịch như cối giã gạo. Bao nhiêu lâu rồi, đèn không sáng ở những căn nhà ấy. Hai năm trời đằng đẵng dịch bệnh, thi thoảng Sao mới nhìn thấy bỏng một vài người ở đó. Mới đây Sao còn thấy có mọc vào tận chân cầu thang. Hoa nở không ai xé tia. Dây leo phủ kín mải nhà và buông xuống hiên từng chùm hoa vàng rực. (Trích Thắp lên, Tống Ngọc Hân)
dàn ý
I.MỞ BÀI:
Truyện ngắn A của nhà văn B và truyện ngắn C của nhà văn D là những tác phẩm tiêu biểu đã khơi gợi nhiều suy nghĩ, cảm xúc hai đoạn trích/ 2tp đã gặp nhau ở...+ VĐNL, thế nhưng bên cạnh điểm giống nhau đó. Hai đoạn trích/2 tp vẫn mang những nét độc đáo riêng biệt bởi lẽ “Người nghệ sỹ không lặp lại người khác và chính mình"
- Trích dẫn chứng TP 1,2
Lưu ý: khi VĐNL bị ẩn đi (... Phân tích đoạn trích/tác phẩm ...); thì lúc này VĐNL sẽ là : đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
Mẫu MB 2
Văn học phản ánh hiện thực nhưng không bao giờ là bản sao của hiện thực. Vì thế, truyện ngắn A của B và truyện ngắn C của D cùng viết về (VĐNL) nhưng mỗi tác phẩm đều để lại dấu ấn nghệ thuật riêng.
Mẫu MB 3
Cùng một hiện thực nhưng qua lăng kính của mỗi nghệ sĩ lại trở thành một thế giới riêng. Truyện ngắn A của B và truyện ngắn C của D đều hướng đến (VĐNL), song mỗi tác phẩm đều khẳng định phong cách sáng tạo độc đáo
Mẫu MB 4
Cùng khởi nguồn từ hiện thực cuộc sống, mỗi nhà văn lại có một cách khám phá và cắt nghĩa riêng về con người. Vì thế, truyện ngắn A của B và truyện ngắn C của Đ tuy cùng thể hiện thể hiện (VDNL) nhưng vẫn tạo nên những giá trị nghệ thuật độc đáo, không thể trộn lẫn.
II. Thân bài
1. Luận điểm 1: Khái quát chung
Đoạn 2: tg1, tp1
+ Tác giả A (Phong cách tác giả, vị trí) + Tác phẩm B: (hoàn cảnh sáng tác), nếu ko có hoàn cảnh sáng tác thì lấy ở chân trang
Đoạn 3: tg2, tp2
+ Tác giả C (Phong cách tác giả, vị trí) + Tác phẩm D: (HCST), nếu ko có hoàn cảnh sáng tác thì lấy ở chân trang
Đoạn 4 tóm tắt tp1
Truyện ngắn A của nhà văn B kể về.....
Đoạn 5: Tóm tắt tp2
Tương tự, truyện ngắn C của nhà văn D xoay quanh...
Đoạn 6: Đề tài, chủ đề
Văn học trước hết là tiếng nói về con người và vì con người. Bởi vậy, dù được sáng tác trong những hoàn cảnh khác nhau, truyện ngắn A của B và truyện ngắn C của D đều gặp nhau ở việc khai thác đề tài (...). Đây là một đề tài quen thuộc của văn học, bởi nó luôn gắn bỏ mật thiết với đời sống con người. Tuy nhiên, bằng vốn sống, trải nghiệm và phong cách riêng, mỗi nhà văn đã mang đến những phát hiện mới mẻ, giúp đề tài trở nên giàu sức gọi và mang dấu ấn sáng tạo riêng.
Đoạn 7: Chủ đề
Nếu đề tài là điểm khởi đầu thì chủ đề chính là linh hồn của tác phẩm. Bởi vậy, cả hai truyện ngắn đều hướng đến chủ đề (...), qua đó thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc, sự trân trọng những vẻ đẹp của con người, niềm cảm thông với số phận con người và gửi gắm nhiều thông điệp ý nghĩa về cuộc sống.
Đoạn 8: So sánh điểm giống nhau giữa 2 nhân vật
Nhân vật là nơi kết tinh tư tưởng và tình cảm của người nghệ sĩ. Bởi vậy, giữa hai tác phẩm, nhân vật 1 và nhân vật 2 đều có những điểm gặp gỡ ở (...). Nhân vật 1 hiện lên là người (...), mang vẻ đẹp (...). Tương tự, nhân vật 2 cũng được khắc họa với những phẩm chất đáng quý như (...), thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của con người trong hoàn cảnh (...). Qua việc xây dựng hai nhân vật, các nhà văn đã bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc trước những số phận con người, đồng thời trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp và khát vọng sống,
khát vọng hạnh phúc của họ. Đoạn 9: giống nhau về nghệ thuật
Bên cạnh sự gặp gỡ về nội dung tư tưởng, hai tác phẩm còn có những điểm tương đồng trong nghệ thuật kể chuyện. Cả hai đều thành công trong việc sử dụng (...), giúp câu chuyện trở nên (...). Việc xây dựng (...), kết hợp với nghệ thuật (...), đã góp phần làm nổi bật (...), đồng thời tạo nên sức hấp dẫn và chiều sâu cho tác phẩm.
Các yếu tố nghệ thuật có thể thay thế trong dấu (...):
Ngôi kể điểm nhìn: ngôi kể phù hợp, điểm nhìn trần thuật linh hoạt → câu chuyện trở nên tự nhiên, chân thực, giàu sức thuyết phục
Tình huống truyện: tình huống truyện độc đáo, giàu ý nghĩa
- làm bộc lộ tỉnh cách, số phận và phẩm chất nhân vật.
Nhân vật: nghệ thuật xây dựng nhân vật sinh động
→ làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, những phẩm chất đáng quý của con người,
Tâm lí: miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế
→ giúp nhân vật hiện lên chân thực, có chiều sâu.
Ngôn ngữ: ngôn ngữ kể chuyện giản dị, tự nhiên mà giàu sức gợi
→ tạo nên giọng điệu riêng và sức hấp dẫn cho tác phẩm.
Đoạn 10: Điểm khác nhau của 2 đoạn trích/ 2 Tp truyện: ( đoạn này viết dài, chỉ tiết cái khác)
Nếu sự tương đồng tạo nên tiếng nói chung của văn học thì sự khác biệt lại làm nên dấu ấn riêng của mỗi tác phẩm. Sở dĩ hai truyện ngắn có những nét riêng biệt là bởi văn học luôn đòi hỏi sự sáng tạo, không chấp nhận sự lặp lại, mỗi nhà văn phải tìm cho mình một cách khám phá và thể hiện riêng. Như Lêônit Lêônốp từng khẳng định: “Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là một phát minh về hình thức và một
khám phá mới về nội dung." Ít nhìn là và gửi mạnh phim tinh the wind tung & th
Tác phẩm 1
Trước hết, truyện ngắn A của nhà văn B thể hiện một cách nhìn riêng về (...). Nếu tác phẩm thứ hai tập trung khai thác (...), thì tác phẩm này lại đi sâu khám phá (...). Qua đó, nhà văn đã làm nổi bật (...), đồng thời gửi gắm (...). Không chỉ khác biệt ở nội dung tư tưởng, tác phẩm A còn mang dấu ấn riêng về nghệ
thuật. Nhà văn B đã lựa chọn (...) (ngôi kể điểm nhìn/tình huống truyện cách xây dựng nhân vật ngôn ngữ...) để thể hiện câu chuyện. Đặc biệt, nghệ thuật (...) đã giúp nhân vật (...) hiện lên chân thực, sinh động và góp phần làm nổi bật chủ đề của tác phẩm. Tác phẩm 2
Trong khi đó, truyện ngắn C của nhà văn D lại đem đến một cách khám phá khác về (...). Tác phẩm tập trung làm nổi bật (...), qua đó thể hiện quan niệm riêng của nhà văn về (...). Sự khác biệt ấy được thể hiện rõ qua cách xây dựng nhân vật (...), tỉnh huống (...) và những chi tiết nghệ thuật giảu sức gọi. Bằng phong cách nghệ thuật riêng, nhà văn D đã tạo nên một thế giới nghệ thuật độc đáo, để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Như vậy, dù cùng hướng đến (...), hai tác phẩm vẫn tạo nên những dấu ấn riêng biệt trong nội dung và nghệ thuật. Chính sự khác biệt ấy không chỉ khẳng định cả tỉnh sáng tạo của mỗi nhà văn mà còn góp phần làm phong phú diện mạo của nền văn học.
Đoạn 11 : Lý giải
GIỐNG - Đồng điệu cảm hứng + Tư tưởng + Hướng tới con người.
KHÁC - Phong cách + Cá tính sáng tạo + Hoàn cảnh thời đại + Cách thể hiện.
Ý NGHĨA - Hiểu sâu tác phẩm + Khẳng định tài năng nhà văn + Thấy sự đa dạng của văn
học. Viết lại chỉ tiết
gog Những điểm gặp gỡ giữa hai tác phẩm bắt nguồn từ sự đồng điệu trong cảm hứng sáng tác và tư tưởng nghệ thuật của các nhà văn. Cả hai đều hướng ngòi bút đến .... những giá trị có ý nghĩa đối với con người và cuộc sống.
Tuy nhiên, sự khác biệt là điều không thể tránh khỏi bởi mỗi nhà văn có phong cách, cá tính sáng tạo và cách nhìn hiện thực riêng. Hơn nữa, tác phẩm còn chịu ảnh hưởng bởi.... hoàn cảnh lịch sử, thời đại và trải nghiệm sống của người nghệ sĩ.
So sánh hai tác phẩm vì thế không chỉ giúp nhận ra điểm chung và nét riêng mà còn góp phần khẳng định tài năng của nhà văn, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp phong phú của văn
Đánh giá ( viết linh hoạt)
Đoạn 12. Đánh giá về nội dung (khung vận dụng)
Từ sự đối chiếu trên, có thể thấy hai tác phẩm vừa có sự gặp gỡ trong những giá trị chung, vừa mang những dấu ấn riêng biệt. Về nội dung, cả hai tác phẩm đều hướng tới (...), qua đó phản ánh (...), thể hiện (...) và gửi gắm những tư tưởng, thông điệp có ý nghĩa về (...). Tuy nhiên, mỗi nhà văn lại có cách khám phá và lí giải hiện thực riêng, tạo nên những góc nhìn độc đáo về (...), góp phần làm phong phú thêm nhận thức của người đọc về con người và cuộc sống.
Có thể thay thế:
Phân ảnh hiện thực đời sống.
Khắc họa số phận con người.
Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất con người.
Thể hiện tình yêu quê hương, đất nước.
Đặt ra những vấn đề có ý nghĩa của xã hội.
Gửi gắm bài học, triết lí về cuộc sống.
Đoạn 13. Đánh giá về nghệ thuật
Không chỉ có giá trị về nội dung, hai tác phẩm còn để lại dấu ấn ở phương diện nghệ thuật. Các nhà văn đều có sự thành công trong việc lựa chọn (...), xây dựng (...), sửdụng (...), từ đó tạo nên sức hấp dẫn cho câu chuyện và làm nổi bật tư tưởng của tác phẩm. Tuy nhiên, bằng phong cách sáng tạo riêng, mỗi tác giả lại có những cách thể hiện độc đáo trong (...), góp phần tạo nên nét riêng không thể trộn lẫn của từng tác
phẩm. Có thể thay thế:
Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật.
Tình huống truyện.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật.
Nghệ thuật miêu tả tâm lí.
Chi tiết nghệ thuật.
Ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật.
Cách tổ chức cốt truyện.
III. Kết luận
Mẫu 1
Qua hành trình so sánh, có thể nhận thấy hai tác phẩm vừa gặp nhau ở
những giá trị nhân văn bền vững, vừa tạo dấu ấn riêng bằng những khám phá nghệ thuật độc đáo. Những điểm tương đồng và khác biệt ấy không chỉ làm sáng rõ vẻ đẹp của (VĐNL) mà còn khẳng định tài năng, tâm huyết và phong cách riêng của hai cây bút trong hành trình khám phá con người và cuộc sống.
Mẫu 2
Tóm lại, hai tác phẩm vừa có sự tương đồng trong cảm hứng sáng tạo, vừa có những nét riêng trong cách khám phá và thể hiện (VĐNL). Chính sự gặp gỡ và khác biệt ấy Lấy đã làm nên giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm, đồng thời khẳng định tài năng và phong cách riêng của mỗi nhà văn.
Mẫu 3
Có thể nói, những điểm gặp gỡ và khác biệt trong cách thể hiện (VDNL) đã tạo nên sức hấp dẫn riêng cho hai tác phẩm. Qua đó, hai nhà văn không chỉ cho thấy sự nhạy cảm trước những vấn đề của cuộc đời mà còn khẳng định phong cách nghệ thuật độc đáo, bởi mỗi tác phẩm đích thực luôn là một khám phá mới về nội dung và một sáng tạo riêng về hình thức,
Quảng cáo
2 câu trả lời 65
ĐOẠN 8: SO SÁNH ĐIỂM GIỐNG NHAU GIỮA HAI NHÂN VẬT (NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT)
Nhân vật là nơi kết tinh tư tưởng, tình cảm và tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ. Giữa hai đoạn trích, nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) và nhân vật Sao (Thắp lên - Tống Ngọc Hân) có những điểm gặp gỡ sâu sắc trong hoàn cảnh sống và phẩm chất tâm hồn.
Về hoàn cảnh: Cả Mị và Sao đều phải chịu áp lực từ hoàn cảnh khắt khe, bị gánh nặng nợ nần của gia đình đè nặng lên số phận và đứng trước nguy cơ bị cưỡng ép vào những cuộc hôn nhân gạt nợ không mong muốn.
Về phẩm chất và tâm trạng:
Cả hai nhân vật đều sở hữu vẻ đẹp tâm hồn kiên cường và khát vọng sống tiềm tàng.
Khi tiếp xúc với những tín hiệu của cuộc sống muôn màu (tiếng sáo, ánh rượu ngày Tết đối với Mị; ánh đèn lung linh, tiếng cười ca từ phía khu du lịch đối với Sao), trong lòng họ đều trỗi dậy sự rung động mãnh liệt, gạt bỏ sự cam chịu để hướng về tự do và khát vọng sống. Mị thấy "phơi phới trở lại", "muốn đi chơi"; Sao thấy "tim đập thình thịch như cối giã gạo", đôi chân bước đi theo sự thôi thúc của hi vọng.
Về giá trị nhân văn và nghệ thuật: Qua việc xây dựng hai nhân vật, hai nhà văn đều bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc trước những éo le của con người, đồng thời trân trọng, ngợi ca khát vọng sống tươi trẻ, tự do. Cả hai tác phẩm đều thành công ở nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế, đặt nhân vật vào những cảnh huống giàu sức gợi để làm bật lên vẻ đẹp tâm hồn.
ĐOẠN 10: ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA HAI ĐOẠN TRÍCH / HAI TÁC PHẨM
Nếu sự tương đồng tạo nên tiếng nói chung của văn học thì sự khác biệt lại làm nên dấu ấn riêng của mỗi tác phẩm. Như Lêônit Lêônốp từng khẳng định: "Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là một phát minh về hình thức và một khám phá mới về nội dung."
1. Nhân vật Mị trong đoạn trích Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài):
Nội dung & Tâm trạng:
Mị là nạn nhân của cường quyền và thần quyền dưới chế độ phong kiến miền núi cũ. Tâm trạng của Mị ở đoạn trích là sự sức sống tiềm tàng hồi sinh sau chuỗi ngày dài bị tê liệt. Mị lén uống rượu, sống lại quá khứ tươi đẹp với tiếng sáo gọi bạn.
Tâm trạng Mị vừa mâu thuẫn vừa nhức nhối: Mị ý thức được tuổi trẻ và khát vọng tự do ("Mị trẻ. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi"), nhưng đồng thời thực tại phũ phàng (cuộc hôn nhân vô nghĩa với A Sử) lại dồn Mị đến ý nghĩ "muốn ăn lá ngón cho chết ngay". Ý nghĩ muốn chết lúc này chính là sự phản kháng mạnh mẽ chống lại thực tại tăm tối.
Nghệ thuật: Tô Hoài thể hiện tài năng miêu tả tâm lý nhân vật qua chiều sâu nội tâm, sử dụng ngôn ngữ giàu chất thơ, tạo dựng hình ảnh biểu biểu tượng (tiếng sáo, cửa sổ lỗ vuông, hũ rượu) và nhịp điệu trần thuật gấp gáp, miêu tả sự đan xen giữa quá khứ và thực tại.
2. Nhân vật Sao trong đoạn trích Thắp lên (Tống Ngọc Hân):
Nội dung & Tâm trạng:
Sao là cô gái đại diện cho thế hệ trẻ trong bối cảnh xã hội hiện đại, phải đối mặt với khó khăn sau dịch bệnh và gánh nặng kinh tế gia đình. Tâm trạng của Sao là sự chủ động, mạnh dạn tìm kiếm lối thoát.
Không cam chịu sự ép buộc hôn nhân trừ nợ, tâm trạng Sao ngập tràn sự hy vọng và hồi hưng khi bắt gặp dải sáng, tiếng cười đùa từ khu du lịch. Khát vọng của Sao gắn liền với hành động thực tế: bước qua cầu treo để đi xin việc làm, chủ động vượt qua khó khăn để tự quyết định cuộc đời mình.
Nghệ thuật: Tống Ngọc Hân chọn lối kể chuyện tự nhiên, gần gũi với hơi thở hiện đại; miêu tả tâm lý gắn liền với hành động bước đi và quan sát cảnh vật xung quanh (dòng suối, dải sáng, ngôi nhà trên núi, giàn hoa nở).
Đánh giá chung:
Nét riêng của Mị là sự trỗi dậy của sức sống nội tại giằng xé giữa bi kịch thực tại và khát vọng tự do trong xã hội cũ; còn nét riêng của Sao lại mang tinh thần chủ động, vượt khó năng động của con người thời đại mới. Sự khác biệt ấy không chỉ khẳng định cá tính sáng tạo của Tô Hoài và Tống Ngọc Hân mà còn góp phần làm phong phú thêm diện mạo của văn học.
ĐOẠN 8: SO SÁNH ĐIỂM GIỐNG NHAU GIỮA HAI NHÂN VẬT (NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT)
Nhân vật là nơi kết tinh tư tưởng, tình cảm và tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ. Giữa hai đoạn trích, nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài) và nhân vật Sao (Thắp lên - Tống Ngọc Hân) có những điểm gặp gỡ sâu sắc trong hoàn cảnh sống và phẩm chất tâm hồn.
Về hoàn cảnh: Cả Mị và Sao đều phải chịu áp lực từ hoàn cảnh khắt khe, bị gánh nặng nợ nần của gia đình đè nặng lên số phận và đứng trước nguy cơ bị cưỡng ép vào những cuộc hôn nhân gạt nợ không mong muốn.
Về phẩm chất và tâm trạng:
Cả hai nhân vật đều sở hữu vẻ đẹp tâm hồn kiên cường và khát vọng sống tiềm tàng.
Khi tiếp xúc với những tín hiệu của cuộc sống muôn màu (tiếng sáo, ánh rượu ngày Tết đối với Mị; ánh đèn lung linh, tiếng cười ca từ phía khu du lịch đối với Sao), trong lòng họ đều trỗi dậy sự rung động mãnh liệt, gạt bỏ sự cam chịu để hướng về tự do và khát vọng sống. Mị thấy "phơi phới trở lại", "muốn đi chơi"; Sao thấy "tim đập thình thịch như cối giã gạo", đôi chân bước đi theo sự thôi thúc của hi vọng.
Về giá trị nhân văn và nghệ thuật: Qua việc xây dựng hai nhân vật, hai nhà văn đều bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc trước những éo le của con người, đồng thời trân trọng, ngợi ca khát vọng sống tươi trẻ, tự do. Cả hai tác phẩm đều thành công ở nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế, đặt nhân vật vào những cảnh huống giàu sức gợi để làm bật lên vẻ đẹp tâm hồn.
ĐOẠN 10: ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA HAI ĐOẠN TRÍCH / HAI TÁC PHẨM
Nếu sự tương đồng tạo nên tiếng nói chung của văn học thì sự khác biệt lại làm nên dấu ấn riêng của mỗi tác phẩm. Như Lêônit Lêônốp từng khẳng định: "Mỗi tác phẩm nghệ thuật phải là một phát minh về hình thức và một khám phá mới về nội dung."
1. Nhân vật Mị trong đoạn trích Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài):
Nội dung & Tâm trạng:
Mị là nạn nhân của cường quyền và thần quyền dưới chế độ phong kiến miền núi cũ. Tâm trạng của Mị ở đoạn trích là sự sức sống tiềm tàng hồi sinh sau chuỗi ngày dài bị tê liệt. Mị lén uống rượu, sống lại quá khứ tươi đẹp với tiếng sáo gọi bạn.
Tâm trạng Mị vừa mâu thuẫn vừa nhức nhối: Mị ý thức được tuổi trẻ và khát vọng tự do ("Mị trẻ. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi"), nhưng đồng thời thực tại phũ phàng (cuộc hôn nhân vô nghĩa với A Sử) lại dồn Mị đến ý nghĩ "muốn ăn lá ngón cho chết ngay". Ý nghĩ muốn chết lúc này chính là sự phản kháng mạnh mẽ chống lại thực tại tăm tối.
Nghệ thuật: Tô Hoài thể hiện tài năng miêu tả tâm lý nhân vật qua chiều sâu nội tâm, sử dụng ngôn ngữ giàu chất thơ, tạo dựng hình ảnh biểu biểu tượng (tiếng sáo, cửa sổ lỗ vuông, hũ rượu) và nhịp điệu trần thuật gấp gáp, miêu tả sự đan xen giữa quá khứ và thực tại.
2. Nhân vật Sao trong đoạn trích Thắp lên (Tống Ngọc Hân):
Nội dung & Tâm trạng:
Sao là cô gái đại diện cho thế hệ trẻ trong bối cảnh xã hội hiện đại, phải đối mặt với khó khăn sau dịch bệnh và gánh nặng kinh tế gia đình. Tâm trạng của Sao là sự chủ động, mạnh dạn tìm kiếm lối thoát.
Không cam chịu sự ép buộc hôn nhân trừ nợ, tâm trạng Sao ngập tràn sự hy vọng và hồi hưng khi bắt gặp dải sáng, tiếng cười đùa từ khu du lịch. Khát vọng của Sao gắn liền với hành động thực tế: bước qua cầu treo để đi xin việc làm, chủ động vượt qua khó khăn để tự quyết định cuộc đời mình.
Nghệ thuật: Tống Ngọc Hân chọn lối kể chuyện tự nhiên, gần gũi với hơi thở hiện đại; miêu tả tâm lý gắn liền với hành động bước đi và quan sát cảnh vật xung quanh (dòng suối, dải sáng, ngôi nhà trên núi, giàn hoa nở).
Đánh giá chung:
Nét riêng của Mị là sự trỗi dậy của sức sống nội tại giằng xé giữa bi kịch thực tại và khát vọng tự do trong xã hội cũ; còn nét riêng của Sao lại mang tinh thần chủ động, vượt khó năng động của con người thời đại mới. Sự khác biệt ấy không chỉ khẳng định cá tính sáng tạo của Tô Hoài và Tống Ngọc Hân mà còn góp phần làm phong phú thêm diện mạo của văn học.
CRE:đức béo
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
57429
-
8962
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
8160 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
4197 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
2699 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
2633
