Quảng cáo
11 câu trả lời 1672
Chào em,
1. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng..., ảnh hưởng đến tình hình Đông Dương. Ngay khi chiến tranh mới nổ ra, bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương đàn áp phong trào dân chủ..., thi hành chính sách "kinh tế chỉ huy". Từ khi Nhật vào Đông Dương (9-1940), nhân dân ta phải chịu cảnh "một cổ hai tròng"... làm cho "quyền lợi của mọi bộ phận, mọi giai cấp đề bị cướp giật. Vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng". Mâu thuẫn giữa cả dân tộc ta với bọn đế quốc - phát xít Nhật - Pháp và tay sai phát triển gay gắt chưa từng thấy. Nhiệm vụ GPDT được đặt ra vô cùng cấp thiết. (0,5 điểm)
Nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc ở Đông Dương thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là GPDT, từ Hội nghị 6 (11-1939), BCHTƯ Đảng đã chủ trương thành lập MTDTTNPĐ Đông Dương, thay cho MTDC Đông Dương của giai đoạn trước. Ở Đông Dương có ba quốc gia dân tộc, cùng đoàn kết chống kẻ thù chung dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, nhưng ở mỗi nước có những đặc điểm riêng. Cần phát huy sức mạnh mỗi dân tộc, đoàn kết và tập hợp lực lượng từng dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, từ đầu năm 1941, Nguy
Chào bạn!
- Xuất phát từ quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng , Đảng ta quan tâm đến việc thành lập mặt trận dân tộc thống nhất để theo từng thời kì cách mạng để tập hợp lực lượng
- do tình hình thế giới và trong nước có sự thay đổi . Tháng 9/1939 CTTG 2 bùng nổ , năm 1940 Nhật nhảy vào Đông Dương , Pháp cấu kết với Pháp áp bức bóc lột nhân dân ta. làm cho mâu thuẫn toàn dân tộc Đông Dương với đế quốc phát xít.
Do sự khác nhau giữa ba nước Đông Dương về lịch sử và khả năng đấu tranh trong từng nước khác nhau. Nên cần thành lập một mặt trận riêng giữa các nước.
vì vậy Đảng ta quyết định thành lập mặt trận Việt Minh
* Sau khi thành lập, Mặt trận Việt Minh phát triển lực lượng
- sau khi ra đời VM tập hợp lực lượng trong các hội cứu quốc
- xây dựng lực lượng ở vùng Cao - Bắc - Lạng , Thái - Tuyên -Hòa. Để xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng
- thời kì tiền khởi nghĩa VM phát triển lực lượng chỉ đạo cao trào kháng Nhật cứu nước , phá kho thóc cứu đói .
-> MTVM phát triển nhanh chóng với sự đoàn kết toàn đân
1. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng..., ảnh hưởng đến tình hình Đông Dương. Ngay khi chiến tranh mới nổ ra, bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương đàn áp phong trào dân chủ..., thi hành chính sách "kinh tế chỉ huy". Từ khi Nhật vào Đông Dương (9-1940), nhân dân ta phải chịu cảnh "một cổ hai tròng"... làm cho "quyền lợi của mọi bộ phận, mọi giai cấp đề bị cướp giật. Vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng". Mâu thuẫn giữa cả dân tộc ta với bọn đế quốc - phát xít Nhật - Pháp và tay sai phát triển gay gắt chưa từng thấy. Nhiệm vụ GPDT được đặt ra vô cùng cấp thiết. (0,5 điểm)
Nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc ở Đông Dương thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là GPDT, từ Hội nghị 6 (11-1939), BCHTƯ Đảng đã chủ trương thành lập MTDTTNPĐ Đông Dương, thay cho MTDC Đông Dương của giai đoạn trước. Ở Đông Dương có ba quốc gia dân tộc, cùng đoàn kết chống kẻ thù chung dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, nhưng ở mỗi nước có những đặc điểm riêng. Cần phát huy sức mạnh mỗi dân tộc, đoàn kết và tập hợp lực lượng từng dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, từ đầu năm 1941, Nguy
1. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng..., ảnh hưởng đến tình hình Đông Dương. Ngay khi chiến tranh mới nổ ra, bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương đàn áp phong trào dân chủ..., thi hành chính sách "kinh tế chỉ huy". Từ khi Nhật vào Đông Dương (9-1940), nhân dân ta phải chịu cảnh "một cổ hai tròng"... làm cho "quyền lợi của mọi bộ phận, mọi giai cấp đề bị cướp giật. Vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng". Mâu thuẫn giữa cả dân tộc ta với bọn đế quốc - phát xít Nhật - Pháp và tay sai phát triển gay gắt chưa từng thấy. Nhiệm vụ GPDT được đặt ra vô cùng cấp thiết. (0,5 điểm)
Nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc ở Đông Dương thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là GPDT, từ Hội nghị 6 (11-1939), BCHTƯ Đảng đã chủ trương thành lập MTDTTNPĐ Đông Dương, thay cho MTDC Đông Dương của giai đoạn trước. Ở Đông Dương có ba quốc gia dân tộc, cùng đoàn kết chống kẻ thù chung dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, nhưng ở mỗi nước có những đặc điểm riêng. Cần phát huy sức mạnh mỗi dân tộc, đoàn kết và tập hợp lực lượng từng dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, từ đầu năm 1941, Nguy
Nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc ở Đông Dương thực hiện nhiệm vụ hàng đầu là GPDT, từ Hội nghị 6 (11-1939), BCHTƯ Đảng đã chủ trương thành lập MTDTTNPĐ Đông Dương, thay cho MTDC Đông Dương của giai đoạn trước. Ở Đông Dương có ba quốc gia dân tộc, cùng đoàn kết chống kẻ thù chung dưới sự lãnh đạo của ĐCSĐD, nhưng ở mỗi nước có những đặc điểm riêng. Cần phát huy sức mạnh mỗi dân tộc, đoàn kết và tập hợp lực lượng từng dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng, từ đầu năm 1941
Đảng chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh nhằm mục đích tập hợp các lực lượng yêu nước, đoàn kết toàn dân để chống Pháp, chống Nhật, giành độc lập tự do cho đất nước. Mặt trận Việt Minh ra đời nhằm mục đích tập hợp các tầng lớp nhân dân, các tổ chức yêu nước để cùng nhau đấu tranh chống lại sự đô hộ của thực dân và phát xít.
Sau khi thành lập, Mặt trận Việt Minh đã phát triển lực lượng mạnh mẽ bằng cách:
- Thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia, từ nông dân, công nhân đến học sinh, sinh viên.
- Tổ chức các hoạt động đấu tranh, tuyên truyền, vận động nhân dân đứng lên chống lại thực dân, phát xít.
- Thành lập các tổ chức, đội vũ trang tự vệ để giữ gìn an ninh, chiến đấu chống kẻ thù.
- Phát triển phong trào cách mạng, mở rộng địa bàn hoạt động, trở thành lực lượng nòng cốt trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Mặt trận Việt Minh góp phần tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, đưa phong trào cách mạng tiến lên giành độc lập cho đất nước.
Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh là một bước ngoặt chiến lược xuất sắc của Đảng Cộng sản Đông Dương (đứng đầu là Nguyễn Ai Quốc), đóng vai trò quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Dưới đây là phân tích chi tiết về nguyên nhân thành lập và quá trình phát triển lực lượng của Mặt trận Việt Minh.
I. Vì sao Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh?
Mặt trận Việt Minh (tên đầy đủ là Việt Nam Độc lập Đồng minh) được thành lập ngày 19/05/1941 tại Hội nghị Lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (do Nguyễn Ái Quốc chủ trì tại Pắc Bó, Cao Bằng) xuất phát từ các lý do cốt lõi sau:
1. Bối cảnh thế giới và trong nước có sự chuyển biến mau lẹ
Thế giới: Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939). Mối đe dọa của chủ nghĩa phát xít đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho phong trào cách mạng thế giới là phải tập hợp mọi lực lượng tiến bộ để chống phát xít.
Trong nước: Tháng 9/1940, phát xít Nhật vào Đông Dương, Pháp quỳ gối đầu hàng. Nhân dân Việt Nam rơi vào cảnh "một cổ hai tròng", chịu sự bóc lột dã man của cả Pháp và Nhật, dẫn đến mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc - phát xít trở nên vô cùng gay gắt.
2. Sự chuyển hướng chiến lược đúng đắn của Đảng
Đảng nhận định: Nguyện vọng tha thiết nhất của toàn thể nhân dân lúc này không phải là đòi quyền lợi giai cấp đơn thuần, mà là giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do.
Do đó, Đảng đã tạm gác slogan "Cách mạng thổ địa" (chia ruộng đất) để tập trung cao độ cho nhiệm vụ "Giải phóng dân tộc".
3. Yêu cầu tập hợp đại đoàn kết toàn dân tộc
Để đánh đuổi hai kẻ thù lớn là Pháp - Nhật, không một giai cấp đơn độc nào có thể làm nổi. Cần phải có một Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi nhằm quy tụ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân (công nhân, nông dân, trí thức, tư sản dân tộc, tiểu chủ, địa chủ yêu nước...) không phân biệt giai cấp, tôn giáo, tuổi tác, giới tính.
Hình thức Mặt trận Việt Minh ra đời nhằm giơ cao ngọn cờ dân tộc, tạo ra sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân.
II. Sau khi thành lập, Mặt trận Việt Minh phát triển lực lượng như thế nào?
Ngay sau khi ra đời, Mặt trận Việt Minh đã xây dựng chương trình (Tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ) rõ ràng, thực tiễn và phát triển lực lượng mạnh mẽ trên cả hai mặt: Lực lượng chính trị và Lực lượng vũ trang.
MẶT TRẬN VIỆT MINH
│
┌─────────────────────────┴─────────────────────────┐
▼ ▼
LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG
‣ Hội Cứu quốc (Công, Nông, Thanh, Niên...) ‣ Cứu quốc quân, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
‣ Cao Bằng làm căn cứ nòng cốt ‣ Việt Nam Giải phóng quân (4/1945)
‣ Mở rộng ra Trung Kỳ, Nam Kỳ, đô thị ‣ Căn cứ địa: Bắc Sơn - Vũ Nhai, Cao Bằng, Tân Trào
1. Xây dựng và phát triển Lực lượng Chính trị (Nòng cốt)
Lực lượng chính trị quần chúng là cơ sở, nền tảng quan trọng nhất của Mặt trận Việt Minh:
Tổ chức các "Hội Cứu quốc":
Mặt trận Việt Minh tập hợp quần众 thông qua các đoàn thể cách mạng mang tên Hội Cứu quốc (Hội Nông dân cứu quốc, Hội Công nhân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Nhi đồng cứu quốc, Hội Trí thức cứu quốc...).
Xây dựng căn cứ quần chúng vững chắc:
Cao Bằng được chọn làm nơi thí điểm xây dựng các Hội Cứu quốc. Đến năm 1942, Cao Bằng đã trở thành "Căn cứ địa cách mạng", hầu hết nhân dân đều tham gia tổ chức Việt Minh.
Từ Cao Bằng, Mặt trận Việt Minh phát triển rộng khắp ra các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Giang... hình thành nên Thái - Lạng - Hà - Tuyên - Thái - Cực (Căn cứ địa Bắc Sơn - Vũ Nhai và Căn cứ địa Cao Bằng).
Phát triển ở các đô thị và miền Nam:
Chú trọng vận động các tầng lớp học sinh, sinh viên, trí thức, tư sản dân tộc, tiểu thương gia nhập các tổ chức Việt Minh ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn.
Tại Nam Kỳ, lực lượng Việt Minh phát triển mạnh mẽ thông qua các phong trào quần众, tiêu biểu là tổ chức Thanh niên Tiền phong gia nhập Việt Minh (1945).
2. Xây dựng và phát triển Lực lượng Vũ trang
Song song với lực lượng chính trị, Việt Minh tập trung xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho khởi nghĩa toàn dân:
Các đội du kích ban đầu: Duy trì và phát triển Đội du kích Bắc Sơn, sau đổi tên thành Cứu quốc quân (hoạt động chủ yếu ở căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai).
Thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân:
Ngày 22/12/1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại Cao Bằng (do Võ Nguyên Giáp chỉ huy).
Đây là lực lượng chủ lực đầu tiên, kết hợp giữa "tuyên truyền" vận động quần chúng và "tác chiến vũ trang".
Thống nhất lực lượng vũ trang:
Tháng 4/1945, Hội nghị Quân sự Bắc Kỳ quyết định thống nhất Cứu quốc quân và Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành Việt Nam Giải phóng quân.
Xây dựng Căn cứ địa Cách mạng:
Tháng 6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc gồm 6 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang) được thành lập, trở thành "hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới", là căn cứ địa chính yếu của cả nước.
3. Đỉnh cao: Lực lượng quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám (1945)
Đến giữa năm 1945, Việt Minh đã quy tụ hàng triệu quần chúng nhân dân từ Bắc chí Nam.
Khi thời cơ đến (Nhật đầu hàng Đồng minh tháng 8/1945), Mặt trận Việt Minh đã chớp thời cơ triệu tập Đại hội Quốc dân Tân Trào (16 - 17/8/1945), thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa, bầu ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch).
Lực lượng chính trị hàng triệu người phối hợp cùng Lực lượng vũ trang Việt Minh đã đồng loạt nổi dậy giành chính quyền trong cả nước, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 02/09/1945.
Tóm lại: Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh là một sáng tạo độc đáo của Đảng và Bác Hồ. Nhờ có Việt Minh, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được khơi dậy và tổ chức một cách bài bản, tạo nên sức mạnh dời sông lấp biển để giành lại độc lập cho dân tộc.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
72980 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
35985 -
Hỏi từ APP VIETJACK28562
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
28048 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
25515 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
24742 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
22690 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
22580
