Phân tích bài thơ đền sầm nghi đống
Phân tích bài thơ hỏi thăm quan tuần mất cướp
Quảng cáo
2 câu trả lời 287
1. Phân tích bài thơ “Đền Sầm Nghi Đống”
(Hồ Xuân Hương)
Bài thơ “Đền Sầm Nghi Đống” của Hồ Xuân Hương là một tác phẩm tiêu biểu cho tiếng thơ trào phúng, sắc sảo và giàu tinh thần dân tộc của “Bà chúa thơ Nôm”. Qua việc nói về ngôi đền thờ Sầm Nghi Đống – một viên tướng nhà Thanh từng đem quân xâm lược nước ta và bị nghĩa quân Tây Sơn tiêu diệt – bài thơ thể hiện thái độ châm biếm sâu cay, khinh bỉ kẻ thù xâm lược, đồng thời bộc lộ niềm tự hào dân tộc mạnh mẽ.
Trước hết, bài thơ thể hiện rõ thái độ mỉa mai, chế giễu của tác giả đối với Sầm Nghi Đống. Thay vì tỏ lòng tôn kính như đối với các anh hùng dân tộc, Hồ Xuân Hương lại dùng giọng điệu giễu nhại để nói về một kẻ bại trận. Việc lập đền thờ cho một viên tướng xâm lược vốn đã phi lí, nay lại được đưa vào thơ với giọng điệu cười cợt, khiến hình ảnh Sầm Nghi Đống trở nên nhỏ bé, đáng khinh.
Qua đó, Hồ Xuân Hương khéo léo lật ngược giá trị: kẻ từng hống hách, kiêu căng khi còn sống thì nay chỉ còn là một “bóng ma lịch sử”, tồn tại nhờ sự thờ phụng miễn cưỡng. Giọng thơ sắc lạnh, châm chọc nhưng không cần lời lẽ nặng nề vẫn đủ để bộc lộ thái độ khinh miệt sâu sắc.
Không chỉ dừng lại ở việc chế giễu cá nhân Sầm Nghi Đống, bài thơ còn mang ý nghĩa phản kháng và tự hào dân tộc. Đằng sau tiếng cười trào phúng là niềm hả hê trước chiến thắng của dân tộc Việt Nam trước quân xâm lược phương Bắc. Thơ Hồ Xuân Hương vì thế không chỉ là tiếng cười cá nhân mà là tiếng nói của tinh thần dân tộc, của lòng tự tôn và ý thức độc lập.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ Nôm dân dã, giọng điệu trào lộng, hình ảnh giàu tính biểu tượng. Nghệ thuật mỉa mai kín đáo mà thâm thúy chính là nét đặc sắc làm nên phong cách Hồ Xuân Hương.
Tóm lại, “Đền Sầm Nghi Đống” là một bài thơ trào phúng đặc sắc, thể hiện rõ tài năng và bản lĩnh của Hồ Xuân Hương. Qua đó, tác giả không chỉ cười cợt kẻ xâm lược mà còn khẳng định niềm tự hào dân tộc và tinh thần độc lập của nhân dân ta.
2. Phân tích bài thơ “Hỏi thăm quan Tuần mất cướp”
(Nguyễn Khuyến)
Bài thơ “Hỏi thăm quan Tuần mất cướp” của Nguyễn Khuyến là một tác phẩm trào phúng tiêu biểu, phản ánh hiện thực xã hội phong kiến suy tàn cuối thế kỉ XIX. Qua việc “hỏi thăm” một vị quan tuần phủ bị mất cướp, nhà thơ đã phơi bày sự bất lực, vô trách nhiệm và nực cười của bộ máy quan lại đương thời.
Bề ngoài, bài thơ mang hình thức hỏi han, chia sẻ với một vị quan bị cướp bóc. Tuy nhiên, ẩn sau lời hỏi thăm tưởng như lịch sự ấy là giọng điệu mỉa mai, châm biếm sâu cay. Nguyễn Khuyến đặt ra một nghịch lí trớ trêu: người có nhiệm vụ giữ gìn trật tự, bảo vệ dân chúng lại chính là kẻ không bảo vệ nổi bản thân mình. Qua đó, nhà thơ khéo léo vạch trần sự yếu kém của quan lại phong kiến.
Nỗi mất cướp của quan Tuần không chỉ là chuyện riêng cá nhân mà trở thành biểu tượng cho sự rối ren của xã hội. Khi quan không làm tròn chức trách, dân không được bảo vệ, thì trộm cướp hoành hành là điều tất yếu. Nguyễn Khuyến không cần lên án trực tiếp mà để sự thật tự bộc lộ qua tình huống trào phúng.
Giá trị phê phán của bài thơ nằm ở chỗ: tiếng cười không đơn thuần để mua vui mà là tiếng cười chua chát, phản ánh nỗi đau trước một xã hội mục nát, suy đồi. Qua đó, ta thấy được tấm lòng yêu nước, thương dân thầm kín của Nguyễn Khuyến – một nhà nho bất lực trước thời cuộc nhưng vẫn giữ nhân cách trong sạch.
Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật với giọng điệu hóm hỉnh, ngôn từ giản dị, cách nói ngược đầy ý vị. Chính sự nhẹ nhàng trong cách nói lại làm cho ý nghĩa phê phán trở nên sâu sắc hơn.
Tóm lại, “Hỏi thăm quan Tuần mất cướp” là một bài thơ trào phúng đặc sắc của Nguyễn Khuyến, vừa phản ánh hiện thực xã hội phong kiến suy tàn, vừa thể hiện thái độ phê phán kín đáo mà sâu cay của tác giả đối với tầng lớp quan lại đương thời.
1. Phân tích bài thơ “Đề thần Sầm Nghi Đống”
Bài thơ là một hồng hoàn thức, phong phú đầy kiêu hãnh trước một tên chung trận (Sầm Nghi Đống tự tử sau thất bại tại gò Đống Đa).
Hai câu đề (Cái nhìn hạ thấp): "Ghé mắt nhìn ngang thấy bảng treo/ Kìa thần thái thú cheo leo" Hồ Xuân Hương không cúi đầu kính ngưỡng mà chỉ "ghé mắt ngang ngang" – một cái nhìn khinh khỉnh, thiếu tôn trọng. Từ "cheo leo" hơi nguy hiểm, không cứng chãi, phản ánh cái thần thờ cũng chỉ là hư danh, không có uy nghiêm.
Hải câu thực (Thành thục hình thức): "Ví đây đổi phận làm trai được/ Thì sự anh hùng há bấy nhiêu" Đây là hai câu thơ giá giá nhất. Nữ nghệ sĩ đặt ra một thiết bị "ví đây đổi bộ phận làm trai". Bà khẳng định rằng nếu mình là nam giới thì bà sẽ làm nên sự nghiệp anh hùng chiến lợi phẩm chức năng "thái thú" cạn kiệt kia.
Hai câu luận và kết (Đòn giáng cuối cùng): Bà gọi thẳng tên "Sầm Nghi Đống" mà không chút dè dặt. Tiếng cười ở đây là tiếng cười chiến thắng của một người phụ nữ Việt Nam trước kẻ thù xâm lược đã thất bại.
Tổng kết: Bài thơ vừa thể hiện tinh thần yêu nước thầm kín, vừa là bản tuyên ngôn về nữ quyền, hạ thấp uy danh của cân mày cân bất tài.
2. Phân tích bài thơ "Hỏi thăm quan tuần mất cướp"
Khác với vẻ kiêu ngạo ở bài trên, bài thơ này lại dùng giọng điệu "yêu" giả vờ để sau mai sự yếu đuối của quan lại đương thời.
Hoàn cảnh sảng khoái: Một quan tuần (người có nhiệm vụ giữ an ninh, bắt cướp) lại bị... cướp thăm thăm. Đây chính là cái gốc tạo nên tiếng cười uyển chuyển.
Sự thật mai qua ngôn từ: "Không rằng quan lớn mất tiền kho/ Một túi tham vọng cũng nở no" Hồ Xuân Hương mượn lời "đồ đó" để khơi lại sự nghiệp. Bà gọi là "tiền kho" nhưng thực chất lại châm biếm đó là "túi tham". Ý nói số tiền bị mất kia cũng chỉ là tiền phong vét từ dân dân mà họ có.
Khó khăn của kẻ cầm quyền: "Của ấy đi đâu thì mặc kệ/ Khéo ai bẻ khóa mà cho" Cách nói "mặc kệ" và "khéo ai bẻ khóa" thể hiện thái độ hả hê của nhân dân. Mất tiền của tham ô là đáng đời. Nghịch cảnh quan giữ an ninh lại không giữ tiền nổi của mình cho thấy sự tàn phá, bất động của bộ máy cai trị.
Tổng kết: Bài thơ là một bản cáo trạng thái bằng tiếng cười. Hồ Xuân Hương đã phơi bày bộ mặt tham lam và vô dụng của tầng lớp quan lại, đồng thời có thể hiện sự đồng cảm với nỗi khổ của người dân bị bóc lột.
So sánh điểm chung của hai bài thơ:
Đối tượng đả kích: Những kẻ mang danh quyền quý, có địa vị xã hội (Thái thú, Quan tuần).
Ngôn ngữ: Sử dụng tiếng Việt bình dân, sắc son, giàu sức tip cảm.
Cái tôi tác giả: Bản lĩnh, sơn nhìn thẳng vào những điều thú vui của xã hội để lên tiếng châm châm.
Quảng cáo
Bạn cần hỏi gì?
Câu hỏi hot cùng chủ đề
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
9300 -
Đã trả lời bởi chuyên gia
5617 -
4942
-
Đã trả lời bởi chuyên gia
1581 -
1514
